HỒI ỨC THÁNG TƯ

     Kiều Oanh

       Ánh nắng chiều xuyên qua đám cỏ lau theo gió đung đưa làm nổi rõ những sợi lông tơ mềm mại lung linh sáng trên đồng cỏ mênh mông - bãi đất lý tưởng cho trẻ em chiều chiều đến thả diều. Thỉnh thoảng tôi hay ra đó, ngồi ngắm những con diều đủ màu sắc, kiểu dáng sinh động đang bay lượn trên bầu trời. Ánh mắt háo hức, lấp lánh nụ cười đầy thích thú của những em bé đang dõi theo con diều của mình như muốn cùng bay cao với chúng, chỉ nhìn thôi tôi cũng thấy vui như đang quay về tuổi thơ… Trẻ em bây giờ có nhiều thú vui giải trí hơn trẻ em ngày trước rất nhiều.        Ngày xưa bọn con nít tụi tôi nếu có được con diều như vậy chắc sẽ mê tít thò lò, suốt ngày nhìn ngắm, nâng niu và tự hào lắm lắm!
       Hồi đó má thường đưa chúng tôi về quê ngoại chơi, dù chỉ là những hoạt động hằng ngày, những thú vui dân dã của mấy anh chị con nhà cậu thôi cũng đủ hấp dẫn đứa con nít thị thành như tôi. Khi con nước lớn chị Phúc, chị Hạnh hay rủ chúng tôi ra bờ đập câu cá bống.
      - Có đứa nào đi theo tui câu cá không ta? - Chị Phúc nheo mắt nhìn tôi cười lém.
      Chỉ cần “mời lơi” một tiếng là tôi đã hào hứng phóng theo chị ngay. Tôi khệ nệ bưng nào thau, nào rổ, mồi câu theo chị. Tôi hồi hộp chăm chú nhìn vào kẹt bụi dừa nước, nơi chị Phúc thả cái cần câu vào đó và không phải chờ đợi lâu:
      - Giựt! giựt!... Cá cắn câu kìa chị Phúc ơi! - Tôi mừng quýnh la lên khi thấy cây cần câu bị lôi đi.
      - Chị Phúc giật mạnh rồi nhanh tay hứng con cá bống lọt vào rổ tre. Cái cần câu không có lưỡi chỉ đơn giản là nhánh cây bình bát, cột dây gân với một chùm trùn đất, “vũ khí” thô sơ như vậy nhưng qua tay “sát cá” như chị Phúc thì quả thật lợi hại vô cùng! Chẳng mấy chốc chị em tôi được một thau cá bống to, chắc chắn chiều nay sẽ có món cá bống kho tiêu ngon tuyệt với tài nấu nướng của chị Hạnh. Buổi chiều xuống nắng, tôi đi theo anh Phước em chị Hạnh ra ngoài cánh đồng trước nhà ngoại thả diều. Con diều “thần thánh” mà anh Phước cặm cụi làm cả buổi mới xong. Anh chuốt tre và cọng dừa bo thành cái khung hình thoi cho đầu con diều, anh còn điệu đà cắt giấy đỏ làm mấy sợi râu dán hai bên đầu con diều cho sinh động. Tôi phụ anh cắt giấy báo làm hai cái đuôi diều để khi bay lên nó uốn lượn đẹp mắt hơn. Tuy cũng có gạch hàng cho ngay thẳng nhưng với trình độ thủ công lớp Một của tôi, cắt một hồi mấy đoạn đuôi diều như bị dị tật, chỗ mập, chỗ ốm không đều nhưng cuối cùng cũng được anh Phước vui vẻ “nghiệm thu” sản phẩm của tôi. Thấy tôi có vẻ không vui anh Phước nhìn tôi cười dí dỏm và động viên:
 
       - Chuyện nhỏ! Miễn sao có cái đuôi để diều bay được là tốt rồi!
 
          Thế là hai anh em cùng nhau dán. Hồi đó không có keo dán, không biết làm bột hồ, anh em tôi chỉ lấy cơm nguội làm keo nên chỗ mối dán lộm cộm hột cơm nhìn xấu thấy ớn. Tuy vậy, khi ra ngoài đồng, con diều bay lên trông cũng ra dáng lắm!
       Mấy năm sau…
       Một ngày gần cuối tháng Tư, má hối hả đem hai đứa con nhỏ nhất nhà là tôi và anh Sáu về ngoại gởi. Lần về quê này tôi không còn được chơi như lúc trước. Tiếng súng nổ khắp nơi, không chỗ nào được an toàn, bom đạn bay trên đầu không biết nó dừng lại ở đâu, ai cũng nơm nớp lo sợ, hoảng loạn... Nhà dì và cậu tôi đều gần khu ấp chiến lược quá nguy hiểm nên mọi người bàn nhau chạy về nhà ông Bảy ở phía xa hơn cho an toàn. Đi đến đó phải băng đồng chứ không dám ra đường chính, một con bé chín tuổi như tôi vừa chạy vừa khóc, lần đầu tiên chứng kiến dọc đường nào áo mũ, súng ống, vật dụng, tư trang, xác chết… nên bị ám ảnh luôn hai từ “chiến tranh” kể từ giây phút đó! Thỉnh thoảng đạn bay vèo qua đầu làm cả đoàn già trẻ, lớn bé đều sợ hãi, ngồi thụp xuống rồi lại đi tiếp, mong cho mau về đến nơi trú ẩn an toàn.
       Cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà ông Bảy, gặp được rất nhiều bà con tập trung ở đó. Khu nhà ông rộng lớn và khá an toàn nên có nhiều người đến trú ngụ. Ông Bảy là người tử tế hay giúp đỡ mọi người nên ai tới cũng được chào đón, sắp xếp chỗ nghỉ đàng hoàng. Không ai bảo ai nhưng tất cả đều cùng cầu nguyện cho ngưng tiếng súng, đất nước sớm thanh bình để mọi người được sống bình yên trở lại như xưa.
      Dì Ba Hồng lôi cây dù trong bao đồ hai má con dì dọn từ nhà đem qua:
      - Trời đất cơi! Coi má tui bả bẻ cây dù nhét vô bao cho gọn nè! Mà không biết sao lúc đó má tui mạnh dữ vậy ta? - Vừa nói vừa đưa cây dù quẹo đơ bị bà Hai bẻ gập, dì ba cười ngất làm ai cũng cười theo.
      Bà Hai gần chín mươi, nhỏ hơn ngoại tôi vài tuổi, bà lúc nhớ lúc quên, giống y ngoại cũng làm mấy bà chị tôi nhiều phen hú vía vì mỗi lần ngoại lẫn mỗi kiểu khác nhau, tôi thấy thương ngoại quá chừng!  Mợ Sáu ngồi dựa lưng vô vách vừa quạt vừa kể chuyện về ngoại: Có đêm ngoại mặc áo dài trắng, đứng nói chuyện với người trong kiếng, chị Hạnh đang ngủ nghe tiếng ngoại nói giật mình dậy thấy tưởng ma hoảng hốt la làng… Có lúc ngoại còn không nhớ ra người thân nào trong nhà, thấy con gái (là má tôi) về ngoại hỏi:
      - Cô kiếm ai vậy? Má tui hỏng có nhà!
      - Má hỏng biết con là ai hả? - Má tôi cười hỏi.  
      - Hông! Vô này ngồi uống nước chơi chút má tui dìa - Mặt bà ngoại tỉnh bơ, hồn nhiên như một đứa trẻ!
      Mợ Sáu có chút chạnh lòng:
     - Không biết sau này già tôi có bị lú lẩn giống như má chồng không nữa?!…
      Chú Năm cũng góp chuyện kể vụ thằng con bị bệnh thiểu năng khù khờ, nó cứ lẩn quẩn chơi trong nhà không chịu đi ra ngoài nên dụ nó từ dưới bến đò lên đây phải mất nửa ngày, ngồi chưa nóng chỗ nó cứ đòi về. Cô Tư bán bánh mì mặt buồn rười rượi lo lắng, bất an không biết giờ chồng cô ra sao. Hồi sáng chú nói đi lấy bánh mì về bán, cô Tư cản đừng đi nhưng ổng không nghe rồi tới giờ vẫn chưa về mà không biết làm sao để liên lạc. Ai cũng có hoàn cảnh, tâm trạng riêng nên cả đêm không ai ngủ được…
      Tôi nhớ hoài bữa cơm đầu tiên ở nhà ông Bảy với món canh khoai tím, tép rang sao mà ngon lạ lùng, ấn tượng đến giờ! Những ngày sau đó như thế nào tôi không nhớ rõ chi tiết, chỉ biết ở nhà ông Bảy vài ngày thì hòa bình, không còn nghe tiếng súng, chúng tôi được má đón về lại Tân An.
*****
      Ngày ấy - ngày 30 tháng 4 năm đó đến nay đã hơn năm mươi năm! Căn nhà của ngoại giờ là nhà thờ, cậu mợ tôi đã qua đời, mấy chị có gia đình ở riêng nên chỉ tụ họp vào những ngày giỗ. Anh Phước con cậu tôi - cháu nội đích tôn của ngoại, lấy vợ sang Mỹ. Quá nửa đời người đi xa xứ nhưng lòng anh vẫn luôn đau đáu nhớ quê hương nên quyết định về Việt Nam sinh sống. Ngày đầu tiên anh Phước về, bà con xóm giềng ai cũng vui mừng, những người bạn cùng trang lứa với anh có kẻ mất người còn, nhắc chuyện xưa ai cũng bùi ngùi xúc động… Khoảnh khắc đáng nhớ nhất là lúc nhìn thấy cái tủ thờ xưa của ngoại, nó vẫn nằm nguyên vị trí ở góc tường gần cửa buồng, khi cửa tủ mở ra… anh ngạc nhiên đến sững sờ! Bên trong tủ có rất nhiều món đồ xưa cũ nằm cạnh một con diều giấy được xếp ngay ngắn trong bịch nylon - Con diều mà mấy chục năm trước tự tay anh làm, trong đó cũng có công của tôi, những nhát kéo “ba xí ba tú” của con nhỏ lớp một hồi đó. Cả một bầu trời tuổi thơ ùa về khiến anh và tôi bật khóc…
       Năm tháng trôi qua, đất nước đổi thay nhiều nhưng ký ức về quê hương với những buồn vui trong mỗi chúng ta vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Những cánh diều mộc mạc đơn sơ của trẻ con ngày xưa hay những cánh diều rực rỡ sắc màu của trẻ em hôm nay đều là hồi ức đẹp về cánh diều tuổi thơ với những ước mơ trong ngần. Dù có bay cao, bay xa đến đâu lòng mình vẫn luôn hướng về quê hương với tình yêu thương không bờ bến như giai điệu, ca từ da diết của bài hát QUÊ HƯƠNG:
“Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày…
Quê hương là con diều biếc, tuổi thơ con thả trên đồn.  Quê hương là con đò nhỏ, êm đềm khua nước ven sông
Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người…”.
       Những ngày tháng Tư đó đã cho tôi nhiều cảm xúc không thể nào quên với bài học lớn về giá trị của sự bình yên. Bình yên đó được đánh đổi bằng máu và nước mắt của biết bao nhiêu người đã hy sinh cho Việt Nam hôm nay và mai sau…
 
                                                                          Kiều Oanh